Cùng tìm hiểu nguyên nhân và mức độ nguy hiểm của bệnh viêm đại tràng mạn

Cùng tìm hiểu nguyên nhân và mức độ nguy hiểm  của bệnh viêm đại tràng mạn

Viêm loét đại tràng được định nghĩa rộng là viêm ở đại tràng, nhưng gồm nhiều tuýp. Các nhà khoa học đang bắt đầu hiểu thêm về những tuýp được mô tả ở trên, các tuýp khác nhau có thể sẽ khiến điều trị khác nhau ở mỗi bệnh nhân. Tìm hiểu về bệnh là cách tốt nhất mà người bệnh có thể làm để có thể hợp tác được với bác sỹ và hiểu hơn về tình trạng bệnh của mình.

 

Cùng tìm hiểu nguyên nhân và mức độ nguy hiểm của bệnh viêm đại tràng mạn

Viêm đại tràng do amip

Bệnh lây truyền theo đường tiêu hoá. Kén amip đã trưởng thành theo thức ăn vào dạ dày, qua ruột, rồi từ đoạn hỗng tràng amip gây ra những tổn thương viêm loét ở manh tràng, đại tràng và trực tràng. Bệnh nhân có những triệu chứng đi tiêu phân nhầy lẫn máu kèm cảm giác mót rặn và đau bụng quặn từng cơn. Bệnh thường kéo dài và hay tái phát.

Chẩn đoán dựa vào việc xét nghiệm phân để tìm amip hoặc làm xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán amip hay nội soi đại tràng sinh thiết có thể thấy được những hình ảnh tổn thương loét đặc hiệu ở đại tràng, giúp cho chẩn đoán. Việc điều trị tuỳ thuộc mức độ nặng nhẹ của bệnh mà bác sĩ sẽ có chỉ định dùng loại thuốc thích hợp. Điều đáng nói là thuốc điều trị amip có những tác dụng phụ nên bệnh nhân cần nhập viện để điều trị và theo dõi.

Viêm đại tràng do lao (lao ruột)

Thường thứ phát sau lao phổi (50% bệnh nhân lao ruột có hình ảnh lao khi chụp Xquang phổi). Cũng có thể gặp lao ruột nguyên phát do bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn lao qua đường ăn uống. Bệnh diễn tiến mạn tính với những triệu chứng nhiễm lao (sốt nhẹ về chiều, mệt mỏi biếng ăn, thể trạng suy sụp) và rối loạn tiêu hoá (tiêu chảy kéo dài, phân đờm nhớt hoặc có máu). Bệnh có thể diễn biến gây tắc ruột hoặc lao màng bụng.

Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong phân, Xquang và nội soi đại tràng sinh thiết cho thấy những hình ảnh tổn thương và tìm tế bào điển hình của lao. Việc điều trị lao ruột cũng phải tuân theo phác đồ điều trị lao chung với các thuốc đặc trị như isoniazid, riafampin, pyrazinamide, ethambutol. Lưu ý: người bệnh cần dùng đủ thuốc, đúng liều và đúng phác đồ để tránh hiện tượng kháng thuốc. Khi có biến chứng tắc ruột thì cần mổ cấp cứu.

Viêm đại tràng giả mạc

Tác nhân gây do vi khuẩn C. difficile, là loại vi khuẩn thường trú ở ruột bình thường không gây bệnh nhưng do sử dụng kháng sinh dài ngày gây loạn khuẩn ruột. Bệnh diễn biến mạn tính gây những tổn thương màng giả ở đại tràng, làm bệnh nhân tiêu chảy nước hoặc có lẫn máu, kèm theo sốt và triệu chứng nhiễm độc do độc tố vi khuẩn.

Chẩn đoán dựa vào cấy phân tìm vi khuẩn, nội soi đại tràng kèm sinh thiết… Để điều trị, trước hết cần ngừng sử dụng những kháng sinh không cần thiết, thay bằng dùng vancomycin hay metrionidazol có thể dùng lacteobaci-llus.

Viêm loét đại tràng vô căn

Bệnh không tìm thấy nguyên nhân như vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm hay virut ở đại tràng. Nguyên nhân có thể có liên quan đến những rối loạn miễn dịch và xảy ra trên những bệnh nhân bị stress nặng. Triệu chứng bao gồm quặn bụng từng cơn, cảm giác mắc cầu cấp thiết, phân nhầy máu kèm sốt, sụt cân.

Ngoài ra, bệnh nhân còn có những triệu chứng đau do viêm các khớp hoặc viêm đốt sống. Bệnh có thể diễn tiến thủng ruột hặc phình đại tràng và ung thư hoá. Nguy cơ ung thư dường như sẽ xảy ra 10 năm sau khi phát hiện bệnh và tỷ lệ tăng lên sau mỗi năm. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi đại tràng và sinh thiết. Về điều trị, cần cho bệnh nhân ăn thức ăn dễ tiêu, tránh sữa, dùng các thuốc chống tiêu chảy, dùng thuốc corticpoid đặt hoặc thụt hậu môn và dùng prednison đường tĩnh mạch trong trường hợp nặng. Đôi khi phải dùng thuốc ức chế miễn dịch.

Khi xảy ra biến chứng xuất huyết ồ ạt, nhiễm độc hoặc thủng đại tràng, cần phải mổ cấp cứu, thậm chí phải cắt toàn bộ đại tràng nếu sinh thiết đại tràng thấy có tình trạng loạn sản hoặc không đáp ứng điều trị.

Bệnh Crohn

Là một bệnh không rõ nguyên nhân, rất thường gặp ở Âu Mỹ nhưng hiếm ở nước ta. Bệnh xảy ra ở cả ruột non và đại tràng, diễn tiến mạn tính với các triệu chứng tiêu chảy đau bụng, sốt, đau hố chậu phải, dễ chẩn đoán nhầm với viêm ruột thừa. Bệnh gây ra những thương tổn co thắt, phù nề và xơ hoá, gây hẹp lòng ruột dẫn đến tắc ruột, rò ruột, ápixe và rò cạnh hậu môn. Việc điều trị như viêm loét đại tràng.

>>> xem thêm:vừng đen chữa đau dạ dày

Replies: 0 / Share:

You might also like …

Post Comment