Đại cương trị và phương pháp điều trị bệnh trĩ hiệu quả

Đại cương trị và phương pháp điều trị bệnh trĩ hiệu quả

Đại tiện trĩ sá ra ngoài nhiều hay ít, có máu đỏ tươi thành giọt hay thành tia, cảm giác khó chịu ở vùng hậu môn: đau, rát, căng tức khó chịu, sưng đau hậu môn, ngứa ngáy, có thể có chảy dịch.

I. Đại cương

– Trĩ là một bệnh thường gặp ở cả nam và nữ, lứa tuổi chủ yếu là trung niên trở nên. Tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người Việt Nam chiếm khoảng 50% dân số ở người trưởng thành.

– Theo YHHĐ nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh trĩ là do lao động vất vả, ăn uống không điều độ, bệnh nghề nghiệp: đứng nhiều, ngồi nhiều, táo bón kéo dài, viêm đại tràng mãn tính cơ địa.

II. Chẩn đoán

A.Theo YHHĐ

1. Lâm sàng

– Cơ năng: Đại tiện trĩ sá ra ngoài nhiều hay ít, có máu đỏ tươi thành giọt hay thành tia, cảm giác khó chịu ở vùng hậu môn: đau, rát, căng tức khó chịu, sưng đau hậu môn, ngứa ngáy, có thể có chảy dịch.

– Thực thể: Thăm khám hậu môn trực tràng

Thăm tay: Niêm mạc hậu môn trực tràng mềm mại như nhung, không có u cục, không đau.

Nhìn ngoài: Có thể thấy các búi trĩ sa ra ngoài ống hậu môn, hoặc bảo bện nhân rặn thấy các búi trĩ lòi ra ngoài.

Biến chứng: Chảy máu kéo dài gây tình trạng thiếu máu, nghẹt các búi trĩ, huyết khối búi trĩ.

– Phân chia độ trĩ: Trĩ chia làm 2 loại: Trĩ nội và trĩ ngoại.

Trĩ ngoại: Các búi trĩ ở bên ngoài hậu môn, nhìn thấy được.

Trĩ nội : Chia làm 4 độ:

Độ I: Đại tiện trĩ không sa ra ngoài sau khi đại tiện bệnh nhân có cảm giác tức nặng, khó chịu ở hậu môn.

Độ II: Đại tiện trĩ sa ra ngoài sau tự co lên được.

Độ III: Đại tiện trĩ sa ra ngoài không tự co lên được, phải đẩy trĩ lên.

Độ IV: Đại tiện trĩ sa ra ngoài phải đẩy trĩ lên, nhưng khi ngồi xổm hoặc đi bộ trĩ lại lòi ra ngoài.

– Phân biệt trĩ nội và trĩ ngoại: Trĩ nội nằm trên đường lược, trĩ ngoại nằm dưới đường lược.

Chữa bệnh trĩ
Chữa bệnh trĩ

2. Cận lâm sàng

Soi hậu môn trực tràng bằng ống cứng giúp xác định số lượng các búi trĩ, phân độ các búi trĩ, xác định các biến chứng, trĩ nội, trĩ ngoại.

– Làm công thức máu, máu chẩy , máu đông để xác định có thiếu máu hay không.

– Sinh hóa máu: Ure, creatinin, cholesterol, triglicerid,…

Chẩn đoán phân biệt: Ung thư ống hậu môn trực tràng: máu đỏ tươi, đau rát hậu môn liên tục, đau tăng khi đại tiện, luôn có cảm giác mót rặn, soi ống hậu môn có khối u sùi loét ống hậu môn.

Sa trực tràng: sa niêm mạc trực tràng hay trực tràng sa ra ngoài không có mạch máu căng giãn.

3. Điều trị

Thay đổi lối sống, tránh lao động thường xuyên ở tư thế ngồi xổm hay đứng lâu, không ăn các chất cay nóng, uống bia rượu. Ăn nhiều rau, hoa quả tươi, uống nhiều nước. tập thói quen đi đại tiện vào một giờ nhất định. Thường xuyên tập thể dục, tập luyện thể thao.

– Can thiệp điều trị trĩ nội:

+ Thắt búi trĩ bằng vòng cao su.

+ Điều trị bằng tia laze.

+ Tiêm xơ teo búi trĩ.

+ Thuốc: thuốc có tác dụng tăng cường sức bền mạch máu, làm giảm tính căng giãn và ứ trệ của tĩnh mạch như: Daflon, ginkofort.

Tại chỗ: Bôi hay đặt thuốc hỗ trợ giúp tăng trương lực tĩnh mạch và giảm đau như: Titanorein, Proctoloc,…

– Điều trị biến chứng:

+ Huyết khối trĩ: Rạch búi trĩ lấy cục máu đông, điều trị trĩ bằng thuốc hay phẫu thuật.

+ Trĩ nghẹt: Đẩy búi trĩ lên, không nên cố, nếu cố nhiều có thể làm bệnh nhân đau.

+ Trĩ chảy máu: Truyền máu khi có thiếu máu, dùng thuốc transamin.

– Điều trị ngoại khoa:

Chỉ định: Trĩ chảy máu nhiều, trĩ ngoại, trĩ hỗn hợp, khi các phương pháp Điều trị nội khoa không kết quả. Trĩ có biến chứng: Huyết khối trĩ, trĩ nghẹt, trĩ độ 3, độ 4

4. Các biện pháp phẫu thuật: Phẫu thuật Miligan-Morgan.

Tại bệnh viện YDCT Quảng Ninh phẫu thuật trĩ bằng máy LG2000 đảm bảo bệnh nhân nhanh khỏi, ít đau đớn, chóng được xuất viện, đặc biệt là không gây hẹp hậu môn sau phẫu thuật, đảm bảo thẩm mĩ.

B. Theo YHCT

I. Đại cương

Trĩ là một bệnh rất hay gặp ở vùng hậu môn trực tràng. Cổ nhân có câu: “Thập nhân cửu trĩ”

– Theo báo cáo của hội hậu môn trực tràng Việt Nam tháng 6 năm 2005 thì Việt Nam bệnh trĩ chiếm 50% dân số ở người trưởng thành.

– Bệnh trĩ ít nguy hiểm nhưng nó gây phiền hà cho người bệnh trong sinh hoạt hàng ngày, ảnh hưởng tới sức khỏe tinh thần, hạnh phúc à khả năng lao động của người bệnh.

II. Nguyên nhân gây bệnh

– Phát sinh bệnh trĩ không chỉ do bệnh lý tại chỗ mà còn do yếu tố toàn thân như: âm dương thiếu cân bằng, tạng phủ khí huyết hư tổn cùng với thấp nhiệt, phong táo, ăn uống, nghề nghiệp gây ra.

+ Thấp nhiệt: gây ra phân lỏng, nát, lỵ mót rặn nhiều.

+ Tràng táo: táo nhiệt ở đại trường lâu ngày làm tổn thương âm tân dịch hư hao, huyết nhiệt, nhiệt bức huyết vong hành gây ra chảy máu.

+ Khí hư hạ hãm lâu ngày làm cho trĩ sa ra ngoài.

+ Các yếu tố khác như: ăn uống mất điều hòa, ăn nhiều đồ cay nóng, uống nhiều rượu bia, ăn ít rau quả, uống ít nước,phụ nữ chửa đẻ kiêng khem quá mức

Replies: 0 / Share:

You might also like …

Post Comment